< Blog Chominh không có nghĩa là chỉ cho riêng mình, nó chỉ là những entry mình viết và sưu tầm cho mình . Rất mong các bạn ghé thăm và chia sẻ >

Thứ Năm, 23 tháng 12, 2010

CHUYỆN TRĂM NĂM


Không biết họ phải vía nhau từ bao giờ. Tháng 10 năm 1974, cô gái vào nhập học lớp dự bị, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Chàng trai là anh bộ đội Trường Sơn xuất ngũ trở về cũng vào học cùng lớp với cô gái. Anh được chỉ định làm Tổ trưởng và được quyền chọn tổ phó giúp việc cho mình. Lướt qua hết lượt mọi người trong tổ, anh nhìn thẳng vào cô gái và nói: “Bạn là tổ phó cho mình nhé!”. Cô gái đỏ mắt lắc đầu quầy quậy: “Em không làm đâu ạ!”, nhưng tiếng vỗ tay cùng tiếng hô đồng ý của mọi người đã hỗ trợ đắc lực cho lời đề nghị của anh. Anh nói: “Bạn thấy chưa, mọi người đều tán thành, vậy là chúng ta sẽ cùng làm việc nhé, đơn giản thôi mà, việc của tổ có gì đâu, chỉ cần chúng mình cùng các bạn trong tổ học tốt là được…”. Rồi đất nước kết thúc chiến tranh chống Mỹ, họ tiếp tục học ôn thi đại học và cùng chính thức đậu Đại học Nông nghiêp I Hà Nội. Cô gái không xin chuyển trường về miền Nam cùng gia đình như nhiều bạn khác cùng là đối tượng con em miền Nam tập kết. Điều gì thế nhỉ? Cô gái không biết vì sao mình lại quyết định ở lại. Nhưng những lá thư và sự chăm sóc của anh đối với cô trong mấy tháng hè chờ vào năm học mới thì cô biết rõ. Thế rồi qua nhiều lần hò hẹn, chờ đợi, họ nhận lời yêu nhau vào một đêm mưa phùn, trong cái lạnh giá của rét Nàng Bân.
Hình như chàng trai còn chưa thật tin vào lời thú nhận của cô gái: “Em yêu anh!” dù biết rằng nếu không bị mình yêu cầu thì có lẽ cô khó có thể nói ra như vậy, nhất là trong lúc này, đáng lẽ anh phải là người nói “Anh yêu em” mới đúng. Thường là thế mà, con trai phải ngỏ lời yêu trước chứ!... Anh đã gặng hỏi cô là nếu không được Ba, Má đồng ý thì sao? Cô thật ngay thẳng trả lời “Em yêu anh, đâu phải là Ba, Má”. Thực ra, cô đã viết thư cho Má và giới thiệu về anh. Vậy đó, tình yêu đến với cô gái thật vô tư lự, và cô vẫn dại khờ như vốn là như vậy, không đòi hỏi, không đắn đo… Để rồi bao nhiêu năm sau đó cô vẫn cứ sống hết mình, sống toàn tâm toàn ý cho sự lựa chọn của mình. Cuộc đời đã bao thay đổi. Anh và cô đã đi suốt một dặm dài. Gập ghềnh, cheo leo, đau khổ và hạnh phúc. Họ đã cùng chia sẻ với nhau những khó khăn trong cuộc sống. Còn nhớ ngày đầu mới yêu nhau, hầu như chủ nhật tuần nào anh cũng chở cô bằng xe đạp từ Trường (Gia Lâm Hà Nội) sang bệnh viện Quân Y 103 (Hà Đông) để thăm Ba cô, lúc ấy ông đang bị bệnh tai biến mạch máu não liệt nửa người. Còn cô đã chẳng ngại ngần ghé vai cùng anh gánh vác những công việc gia đình vì anh là Trai trưởng…
Ba mươi sáu năm kể từ khi họ gặp nhau, yêu nhau và gắn kết với nhau. Cô gái mười tám, đôi mươi ngày nào bây giờ đã là một người đàn bà ngấp nghé tuổi năm lăm. Cái tuổi đủ chín để hiểu mọi điều. Một hôm, tình cờ đọc lại những kỷ niệm xưa, chị bỗng thấy mình tràn đầy hạnh phúc. Thực ra, sóng gió cuộc đời đã làm mờ đi, xóa đi những dấu ấn lung linh, quý giá trong ký ức chị. Thật may chị vẫn còn lưu lại được những dòng chữ, những trang giấy đã ố nhòe vì thời gian. Cảm ơn cuộc đời đã cho chị đủ bản lĩnh để đi cùng chồng đến bây giờ. Những cái chị đã có vẫn còn đây, rất nhiều thơ anh tặng. Và đây nữa, những điều chị đang có: Hai con trai đã trưởng thành, đều tốt nghiệp đại học, một ông xã suốt ngày bận bịu vì công việc, được không ít người biết đến với tài văn chương, thơ nhạc, nổi danh là nhà báo dũng cảm…Bố mẹ hai bên gia đình đều đã qua đời, nhưng các anh chị em đều hòa thuận thương yêu nhau… Nghĩ đến đây, chị mỉm cười mà hai dòng lệ tuôn trào, để có được như hôm nay, thực sự nhiều lúc chị đã phải gồng mình để sống.

Ngày anh chị cưới nhau. Một đám cưới theo phong cách mới, nhưng rất ấn tượng vì được tổ chức tại Trường, do hai lớp của anh và chị đứng ra tổ chức. Gia đình chị đều ở trong Nam không ra được. Trên bàn tiệc chỉ toàn là bánh kẹo làm từ bột mỳ, đường, sữa mà các bạn đã góp tem phiếu đổi ra. Pháo nổ giòn, chị và anh dắt tay nhau đi chào hết bạn bè, các thày cô giáo. Chị trong chiếc áo len màu đỏ, quần lĩnh đen, mái tóc dài được thắt cao bởi chiếc khăn voan đỏ. Anh áo sơ mi trắng tay dài, chiếc quần xanh màu quả cọ mới may thay cho những chiếc quần bộ đội đã bạc màu vẫn mặc thường ngày. Mắt chị sáng long lanh, ngời ngời hạnh phúc. Anh hát tặng cho ngày vui của hai người khúc hát “Đất nước trọn niềm vui”… Ôi! Đã xa rồi, xa mãi những hạnh phúc ngọt ngào, tinh khôi…
Sống bên anh, chị như không còn là mình nữa. Lúc nào cũng chạy theo nhịp sống của anh: Hối hả, vội vàng, cuồng nhiệt, tính toán, va chạm… Nhưng rồi dần dần chị đã hồi lắng, lấy lại thăng bằng cho mình. Chị hiểu anh nhiều hơn qua những bước thăng trầm, những khúc quanh của cuộc sống cùng với những trải nghiệm riêng của mình. Anh là người đa tài, làm việc gì cũng rất nhiệt huyết, nhưng lại rất nóng tính. Bố chồng chị, Người Cha mà chị hằng tôn kính đã khuyên chị “Một điều nhịn là chín điều lành!...” và chị đã nhẫn. Dù anh nóng nảy thế nào chị cũng nhẫn, đương nhiên cũng có lúc chị nổi điên. Những lúc đó đúng là chị điên thật. Lạ thế, lúc này anh lại hết nóng, chị muốn điên cũng chẳng điên được nữa... Chị quý anh cái tính thẳng thắn, có gì cứ xổ bung ra, xong là hết. Nhiều khi chị làm mặt giận anh cả tuần, anh cũng chẳng biết. “Người như vậy giận làm gì!...”. Chị trọng cái tài của anh. Anh quả là người tinh nhanh, tháo vát, thông minh, biến báo và hơn thế nữa, cái tài đó đã giúp ích cho đời và cho gia đình. Chị yêu, rất yêu cái tính đa cảm của anh, yêu tâm hồn văn chương, thơ phú của anh. Chị ghét, rất ghét cái bản năng quá tham vọng của anh. Với cái tài cái đức vốn có của anh, anh có thể đạt được mọi thứ và tỏa sáng một cách an nhiên tự tại. Vậy mà anh vẫn cả đời long đong vất vả, và thực sự anh đã để mất không ít những điều rất quý giá. Có thể anh chưa thể tự mình hiểu được, vì vẫn còn đang say lắm, chưa có lúc nào tĩnh tâm để suy ngẫm và nhìn lại…
Trước mắt anh chị giờ đây là đoạn đường tuy ngắn nhưng rất quan trọng, đó là điểm xuất phát của hai đứa con trai, vật báu của cuộc đời anh chị. Chúng đã lớn, đã học xong đại học, đang bước những bước đầu tiên vào cuộc đời sự nghiệp của riêng mình. Nhưng cũng chính lúc này, những bất đồng trong suy nghĩ về cuộc sống, lối sống của anh và các con thường hay chợt đến, điều đó là quy luật. Chị luôn phải là người dung hòa để mọi việc đừng quá căng thẳng, đừng dẫn đến xung đột trong gia đình. Chị không muốn lặp lại những gì đã xảy ra cách đây 30 năm, chỉ vì tư tưởng cấp tiến của anh đã làm tổn thương đến Gia đình và Bố Mẹ… Anh thường nói: “Hợp được tính nhau, đó là điều hạn phúc nhất”, nhưng đã hơn 36 năm rồi mà hình như anh chị vẫn không hợp được tính nhau. Tuy vậy cái mộng mơ lãng đãng trong một góc nhỏ tâm hồn của họ thì lại có nhiều nét đồng cảm lạ. Có lẽ vì vậy mà họ đã cùng nhau đi một đoạn đường khá dài, đầy trắc trở và họ đang dần đến đích. Cầu mong cho một chút lãng đãng của họ sẽ vẫn là điểm tựa để họ cùng nhau đi đến trọn đời.
23/12/2010 – Tròn 32 năm Ngày cưới

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

Ba ơi!


Hai mươi năm rồi Ba mãi đi xa
Đất nước đổi thay Ba không được thấy
Cuộc sống hôm nay mỗi lần nhìn lại
Đầy đủ tiện nghi, không thiếu thứ gì
Chỉ thiếu tình cha - lòng con đắng nghẹn!
Ba ơi! Sao quá vội ra đi?

Một cuộc đời binh nghiệp vẹn nguyên,
Ba đã trọn hiến dâng cho Tổ quốc
Đất nước hòa bình ba trở về xum họp
Nhưng ngày vui ngắn ngủi chẳng đầy gang
Cơn tai biến bất ngờ nghiệt ngã
Tuổi năm mươi đứng lặng giữa cuộc đời!

Ngày Ba bệnh chúng con vừa mới lớn
Thân xác thì to mà tâm trí dại khờ
Chỉ biết thương ba chăm lo cơm nước
Chẳng biết nỗi buồn thiêu đốt lòng Ba:
Đời chinh chiến từng quen sóng gió
Giờ nằm đây giữa bốn bức tường…

Mười lăm năm mang bệnh bên mình
Ba lặng lẽ âm thầm chịu đựng
Không tiếng thở than, không lời trách mắng
Phút cuối cuộc đời vẫn nói chuyện tiếu lâm
Để bây giờ mỗi phút giây lắng lại
Lệ vẫn chảy hoài trong sâu thẳm lòng con…


MH
Nha Trang
21/12/2010

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

Vườn xưa

Vườn xưa đầy hoa bưởi
Chúng mình chơi trốn tìm
Lần nào em cũng hỏi
Sao anh tìm thấy em?

Rồi chúng mình đi xa
Vườn xưa em vẫn nhớ
Đã bao lần tự hỏi
Sao anh tìm thấy em


Chiều nay em trở lại
Hoa bưởi vẫn rụng đầy
Anh ở đâu, có nhớ
Tuổi thơ trong vườn xưa?

Vườn xưa em về đây
Tóc vương đầm hương bưởi!?...
Em biết rồi… Ngày ấy
Hương mách thầm cho anh!


Nha Trang, hè 2008
MH

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

Im lặng

Anh đã từng cầu xin em: Im lặng
Trong những lần anh cả giận mất khôn.
Em đã nhẫn lòng mình im lặng
Mong Bầu trời anh được bình yên.
Và em đã ngàn lần im lặng
Hơn nửa đời lắng đợi bình yên
Nhưng bầu trời anh vẫn gió giông
Vẫn bão tố cuồng phong
Vẫn mây đen xám xịt…
Rồi một ngày
Im lặng …nổ tung!
Em điên dại thét gào uất nghẹn
Trong đớn đau
Vỡ lòng – chợt hiểu
Với lòng tham – Im lặng chẳng là vàng.

Nha Trang - 2010

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Ngàn lời Tri ân



Kính thưa các thày cô, các anh chị Xóm Tri Ân!
Thế là đã 4 tháng 20 ngày, Blog Tri Ân cuộc đời được ra mắt thế giới Internet. không rõ từ lúc nào, những thành viên của Blog này đã quen gọi là Xóm Tri Ân, cái tên vừa thân thương, gần gũi vừa dân dã, dung dị và mang đậm văn phong văn hóa Việt Nam.
Xóm Tri Ân, nơi hội ngộ của các thày cô giáo và nhóm học trò cũ Trường cấp III Chí Linh. Nơi đây rộn rã tiếng cười vui, lắng sâu những niềm tâm sự qua những áng thơ, văn của thày trò sau bao nhiêu năm gặp lại. Từ Mái trường cấp III Chí Linh, chúng em được học các thày cô những kiến thức khoa học và đạo đức làm Người để rôi bay xa đi khắp phương trời. Ngày gặp lại, tóc thày đã bạc trắng, tóc trò đã điểm sương nhưng tất thảy đều xúc động dâng trào. Trò sung sướng vui mừng được bày tỏ lòng TRI ÂN đến các thày cô. Thày cô rưng rưng cảm động và TRI ÂN cuộc đời đã cho gặp lại lớp học trò sau gần 40 năm ra trường…
Chị Tô Hà đã thay mặt các bạn học trò cũ của Xóm Tri Ân kính gửi đến các thày cô lời chúc tốt đẹp, tôn kính nhất nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam. Riêng em, học trò nhỏ Minh Hương muốn có thêm vài lời tâm sự kính gửi đến các thày cô.


Đã đi xa ngái dặm đường
Vẫn nghe vọng tiếng trống trường năm xưa
Tiếng thày cô giảng thiết tha
Còn in đậm mãi trong ta từng ngày.
Cuộc đời muôn vạn đổi thay
Trắng đen, cao thấp, đúng sai khôn lường
Hôm nay phương trưởng nên Người.
Kính thày, xin tạ ngàn lời Tri ân!
19/11/2010

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Nỗi đau

Truyện ngăn của : Minh Hương
Ùng! Oàng!… Tiếng trẻ khóc thét. Ông Tư đưa tay ôm ngang bụng. “Mình bị thương rồi!”. Cảm giác đau xoáy vào ruột ông. Lại tiếng trẻ khóc thét. “Nó vẫn còn khóc, còn khóc được!”. Ông càng ôm chặt bụng hơn vì đau quá. “Bị thương sao không có máu?”. Ông muốn hét lên nhưng không được, có cái gì đó đè nặng lên người ông.Vẫn tiếng trẻ con ré lên ngằn ngặt. Ông lấy hết sức cố đạp hai chân, miệng há thật to cho đến khi từ trong cổ họng bật ra hai tiếng khản đục: “Không! Không!” mới thấy người nhẹ bỗng. Nhưng sao thế nhỉ? Tất cả là một màu trắng lạnh lẽo. Ông chợt tỉnh: “Ồ! Bệnh viện… Thế là mình lại vừa mộng mị.
Đưa hai tay lên ôm đầu, ông rên rỉ: “Trời ơi! Những ác mộng sao cứ ám ảnh ta?”. Cơn đau dữ dội lại xoáy vào ruột khiến toàn thân ông co quắp, quằn quại. Vậy mà trong cơn ác mộng vừa rồi, ông ngỡ mình bị thương. Từ khoa nhi của bệnh viện vọng lên tiếng khóc của con nít làm ông càng co dúm người lại. Ông nhớ đến nó. Nhưng mà ở cái thời khắc nghiệt ngã ấy, nó có được khóc đâu! Dẫu biết rằng không bao giờ nó còn khóc được để ông cũng như cả sự sống trên trái đất này còn được nghe tiếng khóc của nó …
Từ khi biết mình bị ung thư dạ dày đang ở giai đoạn cuối, ông Tư thường hay hồi tưởng lại những năm tháng chiến tranh, lúc còn ở rừng. Những cảnh thương vong, chết chóc, bom đạn, chất độc… cứ hiện về, đan xen với thực tại. Ông vừa phải chống chịu sự đau đớn về thể xác do con bệnh hiểm nghèo, vừa luôn bị nỗi ám ảnh bởi những cơn ác mộng. Khi tỉnh, ông vẫn rất tự hào về chiến thắng vĩ đại của Dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ và ông đã đóng góp hết sức mình cho sự nghiệp vẻ vang đó. Ông vẫn thường và sẽ còn nói lại với nhiều người, nhất là với lớp trẻ về niềm tự hào ấy … Nhưng khi ngủ, ông luôn bị những ám ảnh bởi nỗi kinh hoàng, đau xót về một điều mà ông biết, cho đến chết vẫn không thể nguôi ngoai và cũng không dễ gì nói được cùng ai.
Không còn chịu nổi cơn đau, ông bấm chuông lên phòng trực. Cô y tá xuống tiêm cho ông một mũi thuốc, cơn đau dịu dần, ông thấy mình mệt lả. Nghĩ đến những cơn đau sẽ còn sau đó, ông rùng mình nhắm nghiền mắt lại. Hồi đó, sau mỗi lần máy bay địch rải chất độc vừa rút khỏi là ông cùng mọi người ào ra nương mỳ, bất chấp cả những hạt bụi thuốc còn bám đầy trên cây lá. Dù sợ chất độc nhưng vẫn phải cứu những củ mỳ, nếu không sẽ không có gì để ăn. Phải chặt thật nhanh ngang cây, chỉ để lại những gốc mỳ để thuốc không kịp dẫn xuống củ. Sau đó mới nhổ lên, ngâm, phơi, làm lương thực dự trữ. Những lần như thế, không phải riêng ông mà hầu như tất cả, không ai lường được hậu quả khủng khiếp của thứ chất độc màu vàng nguy hiểm ấy. Gần hai mươi năm sau ngày giải phóng, đã không ít người từng là bộ đội, cán bộ ở rừng về phải từ giã cõi đời trong sự đau đớn, vật vã về thể xác mà trí óc thì hoàn toàn tỉnh táo vì bị khối u ác tính. Nhiều người khác lại gánh chịu số phận khổ đau đến cùng cực, đó là phải làm cha, làm mẹ của những đứa trẻ dị dạng, tật nguyền, ngớ ngẩn, những quái thai không thể tồn tại ở trên đời. Bây giờ thì đến lượt ông …
Có tiếng ì ầm từ xa của cơn giông. Hừ! Thế mà ông lại nghe ra tiếng ùng oàng của đạn pháo. Ông nhìn ra ngoài, một tia chớp loằng ngoằng chạy ngang trên bầu trời đang sầm sập tối. Hồi ở rừng, một tối nọ, dưới ánh sáng lóa lên như tia chớp của đạn pháo sáng, ông vô tình nhìn thấy sự quấn quýt bên nhau của đôi trai gái bên gốc cây gần lán trại. Lúc ấy ông đã cười một mình: “Quả là tình yêu bất diệt”. Sau đó, họ cưới nhau, người con trai được bổ sung cho đơn vị chủ lực, còn vợ anh ở lại trạm giao liên của ông. Một thằng cu ra đời theo quy luật của tạo hóa, bất chấp bom rơi lửa đạn. Nó được đặt tên là Chiến Thắng, như niềm tin và sự mong mỏi của ba má nó cùng mọi người.
Ông Tư cố đứng dậy, chập choạng từng bước đến bên cửa sổ vì lại nghe tiếng trẻ khóc thét. Ông nhìn xuống khoa nhi, nơi có những đứa trẻ đau bệnh đang điều trị ở đó. Ruột gan ông nhói buốt như có ngàn mũi kim châm chích. Ông nhớ đến cái bụng cóc vì bị lãi của nó, những cơn sốt rét rừng làm mắt nó trắng xác, đôi môi nhỏ xúi, tái nhợt. Chẳng có thuốc gì ngoài mấy viên ký ninh, thế mà nó vẫn sống… Ông thấy môi mình mặn đắng. Ừ! Nếu ông có thể gào lên, khóc thét lên như con trẻ để nỗi đau trong ông sẽ dịu đi chăng? Giá như bây giờ ông có thể nói ra được những dày vò, giằng xé về những uẩn khúc oái oăm, oan nghiệt trong một lần chỉ huy của ông. Ông thắc thỏm chờ bà Tư, sao mãi không thấy về. Ông định quyay lại giường nằm nhưng không làm sao có thể nhấc chân lên được, cả người cứ run lên bần bật. Ông khụy xuống và…
* * *

Đã khuya, bà Tư chưa ngủ. Bà ngồi trên chiếc ghế bố cạnh giường nằm của ông, dạ nôn nao. Bà cứ nhìn mãi vào khuôn mặt hốc hác, tấm thân chỉ còn da bọc xương của ông, tim bà thắt lại. Hai ngày nay, thần sắc của ông thay đổi quá nhiều. Đã vậy, chiều nay ông cứ nằng nặc đòi bà phải đi đến nhà Ba má nó chỉ để biết có một việc ấy. Bà đi mà chẳng yên lòng chút nào. Bà đã dặn ông không được đi đâu xa giường, mọi thứ bà đã chuẩn bị sẵn, thế mà ông lại ra cửa sổ làm gì, may mà bà về kịp…
Hơn ba tháng rồi, bà kề cận bên ông không rời một bước. Thỉnh thởng có ai đến thăm, ngồi chơi nói chuyện lâu, bà mới gửi gắm để về thăm qua nhà. Ông bà chẳng còn ai đỡ đần, họ hàng ly tán hồi chiến tranh, đứa con trai duy nhất của ông bà cũng chết từ nhỏ. Sau giải phóng ông về, bà không còn sinh nở được nữa, vợ chồng già chăm chút nhau hết tình vẫn không khỏi có lúc xót xa tủi phận.
Tiếng thở đều đều của ông làm lòng bà phần nào dịu lại. Cái mệt do phải đi lại vội vàng lúc chiều, bây giờ mới ngấm vào tấm thân già gầy guộc làm bà lịm vào giấc ngủ. Một tay bà vẫn nắm chặt vào tay ông, phòng khi ông dậy là bà biết ngay…
Ông giật mình tỉnh giấc, nửa người từ thắt lưng trở xuống nặng trĩu, hai chân không thể co duỗi được. Cả hai tay cũng vậy, hình như lạnh lắm và cũng không còn có cảm giác, vì ông nhìn thấy bàn tay bà đang nắm chặt tay ông mà không đủ sức để lắc cho bà biết. Ông muốn nói chuyện với bà. Nhìn khuôn mặt đã quá nhăn nheo vì tuổi già lại hằn sâu nỗi lo âu vì mình, ông thấy nhói buốt ở ngực. Ông biết mình sắp phải ra đi mãi mãi, để lại một mình bà như chiếc lá đã úa vàng lắt lay trước gió, cũng chẳng biết sẽ lìa cành lúc nào. Đó chính là điều níu giữ ông cứ ôm mãi niềm tâm sự, âm thầm chịu đựng nỗi đau, không thổ lộ với bà. Ông không muốn những ngày cuối đời cô đơn của bà phải gánh thêm một nỗi đau nào nữa. Ông chắc bà vừa chợp mắt. Thôi! Cứ coi như bà đang thức, đang nghe ông nói. Như thế có lẽ lại hay hơn. Ông vẫn có người để dãi bày mà bà thì … Hình như cái lưỡi cũng không muốn theo sự điều khiển của ông nữa. Tuy vậy, ông vẫn thều thào, môi gần như không còn mấp máy. Ký ức về buổi chiều nghiệt ngã ấy đang hiện lại mồn một trong ông.
“Chiều chập choạng đổ ập xuống bao trùm cả cánh rừng. Nhằm phía bờ sông, họ tiếp tục vạch cỏ tranh tìm lối thoát. Mười ba ngày lánh càn, luồn lách trong rừng, lương thực, nước uống đều đã cạn. Mọi người đều quá mệt, họ lặng lẽ bám sát nhau mà đi. Mùi thuốc lá thơm làm người đi đầu khựng lại: “Có địch!”. Cứ như vậy, người trước nói thật nhỏ cho người sau. Mọi người dồn lên, ẩn trong thung lũng cỏ tranh ngập lút đầu. Họ nhìn thấy bọn địch lố nhố ngay trên đầu dốc, ai nấy đều như nín thở vì giữa đám cỏ tranh trống hoác mà chúng không phát hiện ra. Hình như chúng cũng đã quá mệt mỏi. Thực hiện “Chiến lược chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tập trung đánh vào các khu căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Đợt càn lên Khánh Sơn lần này của chúng với trên một ngàn quân được trang bị vũ khí tối tân, cũng lại vấp phải sự đối phó khôn khéo của ta. Để bảo toàn lực lượng, địch dàn quân đến đâu ta rút vào rừng đến đó. Núi rừng hiểm trở lại không quen địa hình làm cho địch gặp không ít khó khăn…
Trời càng tối dần, bóng đêm loang ra như bức màn vô hình che chắn cho họ. Đành phải chờ đêm xuống khi địch đã ngủ mới có thể rút ra phía bờ sông. Trong đêm tối, tiếng xì xà xì xồ, những đốm lửa thuốc lá lóe lên ngay trên đầu dốc càng làm cho họ thấy địch đang ở gần hơn. Một tiếng động nhỏ cũng làm ai nấy giật thót mình. Nhưng làm sao có thể đảm bảo giữ được im lặng? Sự có mặt của nó, một đứa trẻ lên hai làm cho tất cả mọi người càng lo lắng. Chỉ một tiếng ọ-ẹ vô thức của nó là có thể đổi hết mạng của cả đoàn. Người mẹ cố ôm chặt con vào lòng, giữ cho nó một trạng thái yên ổn nhất trong giấc ngủ lịm đi vì đói. Chị tìm cách thoát riêng cho hai mẹ con để giữ an toàn cho cả đoàn nhưng không thể, chỉ một dấu hiệu khác thường là hàng loạt đạn sẽ đổ xuống thung lũng này.
Tiếng chân quẫy đạp cùng tiếng “hự! Hự!” trong cổ họng của thằng bé làm tất cả hoảng hốt. Tức thì có nhiều bàn tay chồm tới lắc mạnh lên vai, lên tay, lên cả chân ông. Họ sợ thằng nhỏ khóc lớn. Anh mắt của họ lúc chiều đã ngầm nhắc ông về nó làm đầu ông căng ra. Ông bấm bụng: “Ráng thêm chút nữa đi nhỏ, sắp nửa đêm rồi…”. Suốt từ chặp tối đến giờ, trong đầu ông cứ lặp đi lặp lại sự giằng co: “Không được!- Phải thế!”, “Không được!- Phải thế”…”. Tính mạng của mấy chục con người và sự sống của nó phải đưa lên bàn cân và ông là người quyết định… Oi! Nếu không vì mục tiêu bảo toàn lực lưọng của trận chống càn này, nếu được có vũ khí trong tay…
Tiếng quẫy đạp giãy dụa của thằng nhỏ lại dội lên mạnh hơn, những bàn tay bám lên vai, lên tay ông cũng lắc mạnh hơn. Cổ họng ông bật ra một tiếng nói thầm khô khốc: “Phải thế!”… Ai cũng hiểu đó là mệnh lệnh, và…
Người ta nghe những tiếng thở bật ra vì bị kìm nén. Sau đó là sự im lặng rùng rợn. Đúng hơn, đó là sự chết lặng!? Hay là cái gì nữa?… Không ai còn đủ tĩnh tâm để phân định thời khắc đó. Một sự sống nhỏ nhoi thăng hoa vào cõi vĩnh hằng để tồn tại nhiều sự sống khác mạnh mẽ hơn, cần thiết hơn cho cuộc chiến. Cái lý là như vậy!
Không có tiếng thét gào xé lòng của người mẹ mất con, không có sự vật vã, lăn lộn, không có sự giằng lại đứa con đang bị cướp khỏi tay mình. Người mẹ chỉ còn là cái xác không hồn. Nó được trả về tay mẹ khi người đã mềm oặt. Chị ôm chặt nó vào lòng rồi ngất lịm …
Cho đến bây giờ, ông cũng không biết rõ ai là người trực tiếp thi hành mệnh lệnh của ông hôm ấy, và nó đã phải lìa đời một cách oan nghiệt như thế nào. Chỉ biết: Nó bị ngạt thở mà chết… Ông không thể và không muốn biết gì hơn nữa, chỉ chừng đó đã làm ông quá đau khổ, nỗi đau thấm đến tận cùng gan ruột, ngày càng nhức nhối, âm ỉ trong ông theo thời gian dù sự sống xung quanh đang hồi sinh, dấu vết chiến tranh đang nhòa dần … Sau trận càn ấy, cũng như ông, không ai muốn nhắc lại chuyện này. Tất cả họ và cả ông đều tự an ủi, xoa dịu mình: Đó là một sự hy sinh… Còn mẹ nó, phải đến cả năm như người dở điên dở dại… Ôi! Chiến tranh! Dù có biết, người ta cũng không thể lường được hết sự hủy diệt tàn khốc của nó. Để chiến thắng, người ta phải chấp nhận mọi đau thương, mất mát, chấp nhận mọi sự hy sinh … Vẫn biết thế! nhưng với ông, nỗi đau về sự hy sinh của nó, trong sâu thẳm trái tim ông không cho phép được chấp nhận, được tự hào mà ngược lại, đó là một món nợ không bao giờ trả được …
Tiếng chuông đổ dài vọng từ một nhà thờ gần đó làm bà Tư tỉnh giấc. Bà hốt hoảng vì thấy tay ông lạnh ngắt.
- Ông Tư! Ông Tư ơi! Trời ơi! …
Ông từ từ mở mắt, ánh mắt lờ đờ vụt lóe sáng lên khi bắt gặp khuôn mặt đang dàn dụa nước mắt của bà. Ánh mắt như ngọn đèn vụt sáng trước khi tắt vừa muốn thu nhận tất cả hình ảnh của bà, vừa như còn muốn hỏi bà một điều? Bà chợt hiểu, vội cúi sát vào tai ông:
- Bà giám đốc Sở thương binh xã hội nói rằng, còn chờ ý kiến trả lời của Bộ.
Mắt ông vụt tối sẫm, đờ đẫn, vô định, hai hốc mắt sâu hoắm đọng đầy nước mắt. Miệng ông mấp máy nhưng bà không nghe được, rồi bất chợt ông bật lên nói từng tiếng ngắt quãng nhưng rất rõ ràng:
- Tôi đã đợi quyết định của … về sự hy sinh của thằng Chiến Thắng gần hai mươi năm rồi, từ sau ngày giải phóng mà vẫn … Bây giờ tôi không thể … Một ngày nào đó … Bà nhớ báo cho tôi …
* * *

Vào một buổi chiều cuối tháng 7 năm 1996, khi ánh nắng đã nhạt màu, cái nóng như nung, hầm hập của mặt đất dần dần dịu lại. Trước mộ ông Tư, bà Tư vừa cắm nén nhang vừa lẩm nhẩm :
- Ông à! Bộ Lao Động thương binh xã hội người ta đã trả lời, thằng Chiến Thắng không được công nhận là liệt sĩ vì khi chết chưa đến tuổi thành niên. Tuy vậy, từ nay gia đình nó sẽ được hưởng ưu đãi của chính quyền địa phương như đối với các gia đình chính sách khác …
Gió đồi xào xạc tràn xuống nghĩa trang, thổi bạt tàn làm lộ rõ những đốm lửa đỏ rực trên đầu những cây nhang, khói lên ngùn ngụt rồi phật thành ngọn lửa xào xào, ràn rạt … bà Tư vội quỳ xuống, hai tay run rẩy chắp trước ngực;
- Ông ơi! Ông ơi! Ông có sống khôn thác thiêng thì phù hộ độ trì cho tôi sớm được gặp ông để có bầu có bạn, khỏi phải âm dương cách trở. Đã hơn ba năm rồi, tôi cố sống vì lời dặn của ông. Hôm nay tôi đã làm tròn lời hứa với ông … Nỗi đau của ông nơi chín suối cũng là nỗi đau của tôi, của hết thảy những Con Người … song biết làm sao được, cái lý là như vậy!…
Hoàng hôn xuống dần, bà Tư thắp thêm một nén nhang lên mộ ông rồi ra về. Bóng bà liêu xiêu, đôi vai gầy đổ về phía trước. Tà áo dài của bà nhẹ bay theo chiều gió như những áng mây màu tím phía cuối trời đang cuộn vào lòng đất.

Nha Trang
15/3/99

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2010

MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

Về lại mái trường xưa
Kính tặng các Thầy, Cô và thân yêu tặng mái trường tuổi thơ

Từ mái trường này, chúng em tung bay như những cánh chim
Góc biển, chân trời, ngọt bùi, cay đắng
Vẫn khôn nguôi nhớ về năm, tháng ấy
Dẫu bạc trắng rồi tóc cậu học trò xưa

Từ mái trường này chúng em bay xa
Nay về lại, như trái thương về cội
Như nước nhớ về nguồn
Như chim về tổ ấm
Thầy, Cô ơi! Người lái đò cần mẫn
Bến sông này bao thế hệ đã qua ?

Từ mái trường này chúng em bay xa
Đứa làm quan không cậy quyền hống hách
Đứa làm nông hiền lành, chất phác
Đứa làm thơ biết tha thiết yêu người
Đứa phận nghèo lam lũ, nổi trôi
Vẫn biết giữ một đời lương thiện

Mái trường ơi!
Từ bến bờ này ta đã đi xa
Qua bao mùa phượng đỏ
Nay trở lại bóng bàng xưa còn đó
Vẫn lặng thầm râm mát tuổi thơ
Ta bỗng ước lại được là trẻ nhỏ
Để trong ta tiếng trống trường, năm, tháng mãi rung ngân /.
Nha Trang ngày 10-4-2006
Nguyễn Chính



THÀY GIÁO CỦA EMVui tặng thày Đỗ Đình Tuân


Thày gầy như que củi
Chân như hai que tăm
Má tóp như lạc lép
Gió thổi thân đong đưa…
Dưng mà thày rất giỏi,
Đánh máy được chữ tàu
Dịch thơ Hán sang ta
Gọi là hay phải biết
Thày làm thơ lục bát,
Đọc ngọt như mía lùi
Thơ Đường cũng chẳng thua
Vừa hay vừa đúng luật.
Nhất là khi viết bài,
Giới thiệu hay phê bình
Thì thật là tuyệt chiêu
Tận chân tơ kẽ tóc.
Nhưng khi thày kê kích
Tủ đứng phải dịch ngang
Eo ôi! hi hi hi…
MH - 24/10/2010



LẮM ĐA ĐOANKính tặng thày giáo: Nguyễn Minh Tư.
Có phải cuộc đời lắm đa đoan,
Mà Thầy dạy toán lại làm thơ?
Lục bát, thơ đường đều hay cả
Văn xuôi hồi ký thật lâm ly.

Chăm dưỡng mẹ già ai sánh được.
Tổ tiên thờ phụng khó ai bằng.
Một đời dạy học nên danh giá.
Hắt bóng hoàng hôn tựa cháu con.
MH – 26/10/2010